TỤC NGỮ VIỆT NAM CÁCH ĐÂY 100 NĂM - ĐẦU TK 20
Người lùn xem hội
Thò lò ngã bốn mặt ( Tít thò lò NVH)
Mười câu nói hay không bằng một câu nói dở
Cậu chết mợ người dưng
Mẹ để đồ thì mát , con để đồ vừa tát vừa đánh
Dẫu rụng răng cũng thể hùm
Hoc dốt đồ tốt lại muốn
Chẳng giỗ thì nếp còn đấy
Một người thì kín chin người thì trống
Thủng thả thủng thỉnh,chán như con đĩ chơi trăng
Ăn cả rắn thằn lằn,còn vẽ con sư tử
Rồng leo cây nghệ ,voi đỗ cành rào
Chữ xấu mèo cào ( chữ xấu như gà bới NVH)
Mình khôn để ai dại
Nói ra giọng rượu chẳng hơi riềng cũng hơi men
Thợ may thì ăn hơi giẻ, thợ vẽ thì ăn hơi hồ, thày đồ thì ăn bớt chữ , làm gì chẳng có ăn
Gió liệu chiều che ( Gió chiều nào che chiếu ấy NVH )
Đã hỏng nồi thì lôi lấy rế
Chẳng ưa dưa có bọ ( Chẳng ưa dưa có dòi NVH)
Sang nước Lào phải ăn mắm ngóe
Vắng mặt gọi thằng Ngô , có mặt kêu Ông Sứ ( Vâng dạ trước mặt ,đấm C.sau lưng câu này tôi nghe được từ Chị Tư Vân Mĩ Tho( Tiền Giang ) thời chiến tranh đánh diệt chủng Pôn Pôt NVH).
Tớ ruồi thầy mật
Làm đĩ có gan ( Có gan làm đĩ có gan chịu đòn NVH)
Mật ít ong nhiều ( Mật ít ruồi nhiều NVH)
Bù nhìn coi dưa , đười ươi giữ ống
Phải gai lại lấy gai nhể
Hươu trỏ là ngựa ,đỉa cũng như rươi
Lếu láo bố cu nhăng ,nhếch nhác con mẹ mốc
Nói chẳng hở hàm răng
Củi đậu lại nấu đậu
Hùm tha lợn chẳng sao ,mèo tha thịt đuổi cùng củ-tỉ
Lệnh vua phải thua lệnh làng ( Phép vua thua lệ làng NVH)
Không hoài thóc ta cho gà người bới
Nửa miếng giữa làng bằng sàng xó bếp
Tốt danh hơn áo lành
Già lừa đẻ non ngựa, máu bò như tiết dê
Chó dại có mùa người dại quanh năm
Một người làm đĩ xấu cả mĩ danh đàn bà
Người chết rồi mới chết tật
Mắt sắc như dao cau ,mồm ướt như cầu rửa
Trai phải hơi gái bè vó trôi bão
v.v…


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét